Home / Thông tin ung thư trẻ em / Điều trị ung thư trẻ em / Các nguyên tắc chung khi khám lâm sàng đối với trẻ em nghi ngờ mắc bệnh ung thư

Các nguyên tắc chung khi khám lâm sàng đối với trẻ em nghi ngờ mắc bệnh ung thư

CÁC NGUYÊN TẮC CHUNG KHI KHÁM LÂM SÀNG ĐỐI VỚI TRẺ EM NGHI NGỜ MẮC BỆNH UNG THƯ

Nguyễn Ngọc Hoàng Linh biên dịch

 

LỜI MỞ ĐẦU

Ung thư ở trẻ em thường khó phát hiện ở giai đoạn sớm vì các dấu hiệu liên quan không đặc hiệu, âm thầm khởi phát, và triệu chứng trùng lặp với các bệnh thường gặp. Khoảng thời gian từ lúc khởi phát triệu chứng đến khi chẩn đoán ung thư ở trẻ em khác biệt giữa các loại bệnh ung thư, dao động từ 21 ngày đối với u nguyên bào thần kinh đến 72 ngày đối với bệnh Ewing sarcoma.

Các bác sĩ gia đình có thể có ít kinh nghiệm trong việc chẩn đoán các bệnh ác tính ở trẻ em và có thể lưỡng lự trong việc đưa ra chẩn đoán do các biến chứng đáng quan ngại. Tuy nhiên, dù có lo ngại hay không, bệnh nhi và gia đình của trẻ thường lo lắng về ung thư, và khả năng mắc ung thư nên được thảo luận khi trẻ xuất hiện những dấu hiệu và triệu chứng gợi ý ban đầu.

Để điều trị tối ưu ung thư ở trẻ em, đòi hỏi thái độ cảnh giác cao của bác sĩ chăm sóc ban đầu và liên hệ sớm với các chuyên gia ung thư nhi. Phát hiện sớm và chữa trị kịp thời có thể làm giảm tỷ lệ tử vong và các biến chứng liên quan đến bệnh.

THÔNG TIN CHUNG

Những sự thật về ung thư trẻ em tạo tiền đề để bàn luận xung quanh đánh giá lâm sàng ở trẻ em nguy cơ mắc bệnh ung thư:

  • Mặc dù ung ở thư trẻ em hiếm gặp, nhưng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở những trẻ trong độ tuổi từ 1- 19 tuổi tại Hoa Kỳ. Tỷ lệ tử vong ở bé trai cao hơn so với bé gái và thanh thiếu niên cao hơn so với trẻ nhỏ.
  • Tỷ lệ sống sót sau 5 năm khác biệt theo từng vị trí, nhưng nhìn chung khoảng 80-85% khi xem xét trên tất cả các loại ung thư. Khả năng sống sót sau mắc ung thư đã được cải thiện đáng kể trong vài thập kỉ qua.
  • Các vị trí ung thư phổ biến bao gồm: máu và tủy xương, não, xương, hạch bạch huyết, hệ thần kinh, thận và các mô mềm. Tần suất mắc phải các loại ung thư khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi của đứa trẻ. Ví dụ: u nguyên bào thần kinh và u Wilms thường xuất hiện trong giai đoạn từ sơ sinh đến 4 tuổi, lơ xê mi thường gặp trong độ tuổi 1 – 4 tuổi. Và Ewing sarcoma, ung thu hạch Hodgkin và ung thư tuyến giáp phổ biến ở trẻ trên 10 tuổi.
  • Ít nhất 85% ung thư trẻ em xuất hiện các dấu hiệu và triệu chứng được đề cập trong chủ đề tổng quan này; 10-15% còn lại của các khối u có liên quan đến dấu hiệu và triệu chứng bất thường và khó chẩn đoán hơn ở giai đoạn đầu.
  • Sự chậm trễ trong việc chẩn đoán đã được chứng minh là có liên quan đến tuổi của trẻ (trẻ lớn hơn có nguy cơ chậm trễ cao hơn), loại ung thư, biểu hiện của triệu chứng, vị trí khối u, giai đoạn ung thư và tư vấn y khoa đầu tiên.

 

 

CÁC NGUYÊN TẮC ĐÁNH GIÁ CHUNG

Hỏi bệnh sử chi tiết là bước đầu tiên trong việc đánh giá trẻ có nguy cơ mắc bệnh ung thư. Cần chú ý đến lí do đến khám của trẻ. Mặc dù nhiều triệu chứng của bệnh ung thư thường biểu hiện tương đối rõ ràng ở người trường thành (ví dụ: thay đổi thói quen của đi cầu và đi tiểu, vết thương không lành, chảy máu hoặc chảy mủ bất thường, có hiện tương phì đại hoặc xuất hiện u bướu ở vú hoặc những nơi khác, khó tiêu hoặc khó nuốt, có sự thay đổi rõ ràng ở mục cóc hoặc nốt ruồi, khàn tiếng), nhưng những than phiền này lại không thường gặp ở trẻ em.

Hiệp hội Ung Thư Hoa Kỳ đã xây dựng và phát triển cách ghi nhớ các triệu chứng nhằm giúp các bác sĩ lâm sàng lưu ý các dấu hiệu cảnh bảo sớm ung thư ở trẻ em:

  • Sụt cân liên tục không giải thích được
  • Đau đầu kèm nôn vào buổi sáng
  • Tăng sưng nề hoặc đau dai dẳng ở các xương hoặc khớp, đôi khi kèm với khập khiễng
  • Xuất hiện u bướu hoặc khối ở bụng, cổ hoặc nơi khác
  • Sự phát triển màu đục trắng ở đồng tử của mắt hoặc thay đổi thị lực đột ngột
  • Sốt tái đi tái lại không do nguyên nhân nhiễm trùng
  • Bầm tím hoặc chảy máu quá mức (thường đột ngột)
  • Xanh xao đáng kể hoặc mệt mỏi kéo dài.

Ngoài những dấu hiệu cảnh báo này, việc phát hiện sớm ung thư ở trẻ em đòi hỏi cần có kiến thức về tiền sử bản thân trẻ và tiền sử gia đình. Một số bệnh di truyền và hội chứng suy giảm miễn dịch có liên quan với tăng nguy cơ phát triển ung thư. Những trẻ sống sót sau khi mắc một số loại bệnh ung thư (ví dụ: u nguyên bào võng mạc) có nguy cơ phát triển ung thư thứ phát. Tiền sử gia đình bao gồm các thông tin liên quan đến cha mẹ, anh, chị em và anh chị em họ thế hệ gần nhất, tuổi tác, bệnh hiểm nghèo, dị tật bẩm sinh và nguyên nhân gây tử vong của các thành viên gia đình quá cố nên được khơi gợi.

Theo nguyên tắc chung, công tác chẩn đoán và xử trí ban đầu ung thư ở trẻ em nên được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa ung thư nhi và tốt nhất thực hiện tại một trung tâm ung thư nhi khoa, nơi có các chuyên gia và xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán và/hoặc phác đồ điều trị có sẵn. Trong một số trường hợp, thực hiện điều trị khẩn cấp là cần thiết tại thời điểm hiện tại và có thể cần phải trị liệu ngay lập tức để ổn định tình trạng của trẻ. Trong những trường hợp này, điện thoại  tư vấn với bác sĩ ung thư nhi là cực kỳ quan trọng.

Tầm quan trọng của việc thiết lập chẩn đoán chính xác và xác định mức độ bệnh trước khi bắt đầu trị liệu cần phải được nhấn mạnh cho cha mẹ và đứa trẻ (nếu ở độ tuổi thích hợp) tại thời điểm đánh giá ban đầu. Chăm sóc như vậy giúp đạt được liệu trình điều trị thích hợp và phòng tránh việc lặp lại các kiểm tra và sinh thiết không cần thiết sau khi đã bắt đầu điều trị.

Tài liệu tham khảo

C Philip Steuber (2019), “Clinical assessment of the child with suspected cancer”, Uptodate 2019.

About admin

Check Also

Ung thư ở trẻ em

UNG THƯ Ở TRẺ EM Trần Thanh Tuấn biên dịch Tổng quan Ung thư là …

Trả lời